BỆNH UNG THƯ
Dưới đây là thứ tự tỷ lệ mắc các bệnh ung thư hàng đầu: (xếp thứ 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7…)
- Ung thư phổi: chiếm tỉ lệ cao nhất ở nam giới kể cả các nước phát triển và đang phát triển (khoảng 12,4% trong tất cả các loại ung thư). Tỉ lệ mắc bệnh và tử vong tăng cao từ tuổi 40 trở lên và đạt cực đại ở tuổi 75. Tỉ lệ tử vong do ung thư phổi ước tính bằng tổng cộng của 4 loại ung thư: đại trực tràng, vú, tiền liệt tuyến và tuỵ.
- Ung thư dạ dày: Là ung thư nhiều xếp thứ 2 và có xu hướng ngày càng gia tăng. Có nhiều nguyên nhân gây ra ung thư dạ dày, nhưng ước tính khoảng 30% số ca mới xuất hiện ở các nước phát triển và 47% ở các nước đang phát triển là có liên quan đến vi khuẩn HP (Helicobacter Pylori). Một số vùng như Đông Nam Á, Nam Mỹ, Đông Âu… có tỉ lệ ung thư dạ dày cao hơn các vùng khác trên thế giới.
- Ung thư vú: là loại ung thư gặp nhiều nhất ở nữ (chiếm khoảng 23% tổng số các loại ung thư ở nữ), đặc biệt phụ nữ ở các nước đang phát triển. Tỉ lệ ung thư vú tăng cao ở tuổi 50, 60 và cao nhất ở độ tuổi 70. Dự báo tần suất mắc bệnh là 111/ 100.000 dân vào những năm đầu của thế kỷ 21.
- Ung thư đại trực tràng: chiếm khoảng 9,4% tổng số các loại ung thư. Loại ung thư này thường có liên quan đến chế độ ăn uống và mức sống…, bệnh thường gặp ở các nước phát triển hơn là ở những nước nghèo. Bệnh có yếu tố di truyền. Nguy cơ ung thư đại trực tràng tăng cao ở những người có tiền sử viêm đại tràng từ trước.
- Ung thư gan: chiếm khoảng 5,7% tổng số các loại ung thư và có liên quan mật thiết với tiền sử viêm gan virus B và C. Các nước khu vực châu Á có tỉ lệ mắc ung thư gan cao.
- Ung thư tiền liệt tuyến: bệnh thường gặp ở người có tuổi, có xu hướng ngày một tăng do tuổi thọ chung ngày càng tăng. Bệnh chiếm tỉ lệ cao ở các nước phát triển và thấp hơn ở các nước đang phát triển.
- Ung thư cổ tử cung: Là bệnh gặp nhiều ở các nước nghèo và đang phát triển. Virus HPV (Human Papilloma virus) có lẽ là một trong những yếu tố gây nguy cơ cao mắc bệnh này bên cạnh sự kém hiểu biết về vệ sinh và điều kiện sống khó khăn của bệnh nhân.
Xếp thứ tự nguy cơ cao mắc bệnh ung thư trên cả nam và nữ như sau:
- Ung thư Phổi (nguy cơ số 1, đặc biệt là nam giới)
- Ung thư dạ dày (nguy cơ thứ 2 cho cả 2 giới, Nam mắc nhiều hơn Nữ)
- Ung thư Vú (là bệnh ung thư có nguy cơ hàng đầu của Nữ)
- Ung thư đại trực tràng (nguy cơ thứ 4, đặc biệt là Nam giới)
- Ung thư Gan (nguy cơ thứ 5 cho cả 2 giới, Nam nhiều hơn nữ)
- Ung thư tuyến tiền liệt (nguy cơ thứ 5 của Nam giới)
- Ung thư Cổ tử cung (nguy cơ thứ 2 của nữ giới)
(không còn xếp thứ tự mà xếp theo ABC bắt đầu từ đây)
- Ung thư Amidan
- Ung Thư Âm Đạo
- Ung Thư Âm Hộ
- Ung thư bạch cầu
- Ung Thư Bàng Quang
- Ung thư biểu mô khoang miệng
- Ung thư biểu mô tế bào Thận
- Ung thư Buồng trứng
- Ung thư các xoang mặt
- Ung thư Da
- Ung Thư Đầu Cổ
- Ung Thư Dương Vật
- Ung Thư Hắc Tố
- Ung Thư Hạch
- Ung thư lưỡi
- Ung Thư Não
- Ung thư nội mạc tử cung
- Ung Thư Phần Mềm
- Ung thư Phúc mạc
- Ung thư Sác-Côm (xơ, thần kinh xơ, xương, sụn, nhày, cơ vân trẻ em..)
- Ung Thư Thận
- Ung thư Thanh quản
- Ung thư Thực quản
- Ung Thư Tinh Hoàn
- Ung Thư Trung Mô
- Ung thư Trung thất
- Ung thư Tuyến giáp
- Ung thư Tuyến ức
- Ung Thư Tuyến Nước Bọt
- U Vỏ Tuyến Thượng Thận
- Ung Thư Tuyến Tụy
- Ung thư Vòm họng
- Ung Thư Vú Nam
- Ung thư xương
CHẨN ĐOÁN BỆNH UNG THƯ
Chẩn đoán bệnh ung thư nói chung dễ ở giai đoạn muộn nhưng lại rất khó ở giai đoạn sớm.
Ung thư là loại bệnh mạn tính, trải qua nhiều giai đoạn phát triển: khởi phát, tăng trưởng thúc đẩy, chuyển tiếp, lan tràn, di căn.
Ở các giai đoạn ban đầu, vì kích thước quá nhỏ và luôn có những biến đổi về mặt dịch thể (chưa có các men, các chất do u tiết ra), nên trên lâm sàng cũng như trên xét nghiệm chưa thể phát hiện được u.
Ở giai đoạn muộn hơn: giai đoạn tiền lâm sàng và lâm sàng (giai đoạn tiến triển, xâm lấn). Việc chẩn đoán sớm được đặt ra. Ở giai đoạn này khối u đã bắt đầu có sự xuất hiện một số chất do tế bào ung thư tiết ra và kích thước của u cũng có thể đủ để phát hiện dựa vào các phương tiện cận lâm sàng.
Tuy nhiên việc chẩn đoán bệnh ung thư có những hạn chế:
Phần lớn các chất chỉ điểm ung thư có tính đặc hiệu không cao.
Về lâm sàng: những ung thư nằm ở vị trí sâu rất khó phát hiện ở giai đoạn sớm.
Do trình độ hiểu biết về y tế của bệnh nhân còn hạn chế nên tỷ lệ bệnh nhân đến giai đoạn sớm rất thấp.
Chính vì những lý do trên, nên việc chẩn đoán sớm mới chỉ được áp dụng có hiệu quả ở một số bệnh nhất định, có sự phối hợp chặt chẽ giữa lâm sàng, cận lâm sàng.
Chẩn đoán ung thư gồm 3 bước:
- Chẩn đoán sơ bộ, định hướng nghĩ tới ung thư, dựa trên các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng (nội soi, x-quang, siêu âm, chụp đồng vị phóng xạ, chụp cộng hưởng từ hạt nhân MRI…). Bước chẩn đoán ban đầu rất quan trọng, nếu làm tốt sẽ góp phần chẩn đoán bệnh sớm.
- Chẩn đoán xác định chủ yếu dựa vào xét nghiệm vi thể, mà chính xác nhất là chẩn đoán bệnh lý giải phẫu.
- Chẩn đoán giai đoạn bệnh: là bước đánh giá sự xâm lấn và lan tràn của ung thư.
.png)







