Google Plus Youtube Facebook Twitter
Menu

PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ U TUYẾN TÙNG

Tuyến tùng (hay còn gọi là con mắt thứ ba) là một tuyến nội tiết nhỏ trong thần kinh thực vật. Nó có hình dạng giống quả tùng nên có tên như vậy. Tuyến tùng nằm gần trung tâm của não, giữa hai bán cầu, chui trong rãnh chỗ gặp nhau của hai đồi não.

U tuyến tùng chiếm 3% - 8% các khối u não ở trẻ em và chiếm 0,4% - 1% ở người lớn tại các nước phương tây (SANO 1987). Vị trí của khối u nằm sâu dưới bán cầu não, sát với đường dẫn dịch não tủy và thân não. Những tiến bộ y học những năm gần đây cho phép hiểu biết tốt hơn về đặc điểm sinh lý của tuyến tùng, đặc biệt là về phân loại, chẩn đoán và tiên lượng bệnh nhờ kĩ thuật xét nghiệm hóa mô miễn dịch hiện đại và kĩ thuật đánh dấu khối u. Mặc dù kĩ thuật phẫu thuật và xét nghiệm đã có những tiến bộ vượt bậc, chiến lược điều trị bệnh phải được hội chẩn liên chuyên khoa rất kĩ càng nhằm chốt phương án đáp ứng nhất cho bệnh nhân.

1. Phẫu thuật: Phẫu thuật bóc tách khối u tuyến tùng là phác đồ điều trị chủ yếu vì những lý do sau:

- Xác định chính xác mô bệnh học của khối u: Việc xác định chính xác đặc điểm mô bệnh học khối u là vô cùng cần thiết, điều mà phương pháp sinh thiết đơn giản không phải lúc nào cũng làm được, nhất là đối với các khối u phức tạp. Biết chính xác đặc điểm khối u cho phép đưa ra phác đồ điều trị đáp ứng nhất bởi vì gần 50% các tổn thương là lành tính hoặc kháng phóng xạ, đồng thời cũng cho phép lựa chọn phác đồ điều trị bổ sung đáp ứng nhất cho bệnh nhân.

- Ngay cả khi là khối u ác tính, phẫu thuật cho phép giảm khối lượng khối u để cho phép điều trị bổ sung hiệu quả hơn và giảm áp lực nội sọ rất nguy hiểm đối với bệnh nhân.

- Đảm bảo thành công của ca phẫu thuật loại bỏ khối u, tỉ lệ tử vong hiện nay là dưới 5%.

2. Não úng thủy: Việc đặt ống dẫn dịch não tủy từ não thất xuống ổ bụng là một quyết định quan trọng, nó giúp tạo thuận lợi cho việc phẫu thuật. Tuy nhiên, nó cũng tiềm ẩn nguy cơ rủi ro khiến khối u xâm lấn nhanh hơn nếu đó là khối u ác tính. Vì vậy, bác sĩ chỉ chỉ định đặt ống dẫn dịch não tủy khi có biến chứng dịch cấp sau phẫu thuật. Ống dẫn dịch có van tự hành dễ dàng điều chỉnh dần áp lực nội sọ về mức bình thường để có thể tháo bỏ hoàn toàn.

3. Xạ trị: Xạ trị là phác đồ cần thiết đối với khối u tuyến tùng ác tính. Hiệu quả xạ trị tùy thuộc vào đặc điểm mô bệnh học khối u. Loại tia xạ, hình thức xạ (trúng đích, tại chỗ, độc lập hay kết hợp…), liều lượng xạ sẽ được nghiên cứu, hội chẩn kỹ càng và phải được xây dựng theo độ tuổi của bệnh nhân. Xạ trị vùng sọ là bắt buộc đối với tất cả các loại khối u có nguy cơ xâm lấn tại chỗ hoặc di căn xa. Xạ trị dự phòng chỉ dành cho những bệnh nhân bị xâm lấn tế bào viêm trong dịch não tủy hoặc phát hiện có di căn cột sống.

4. Hóa trị: Hiệu quả hóa trị cũng phụ thuộc vào đặc điểm mô bệnh học khối u. Một số trường hợp, hóa trị được thực hiện sau phẫu thuật, trước hoặc sau khi đã được xạ trị. Trong một số trường hợp, đặc biệt là đối với khối u tiết hóc môn thì sẽ phải hóa trị trước phẫu thuật nhằm giảm liều xạ trị và sẽ chỉ xạ trị tại vị trí nơi khối u đã đươc bóc tách.

➖ ➖ ➖ ➖ ➖ ➖ ➖ ➖ ➖ ➖ ➖ ➖ ➖ ➖ ➖ ➖

VĂN PHÒNG HỖ TRỢ BỆNH NHÂN

Tòa nhà VNT - 19 Nguyễn Trãi - Thanh Xuân - Hà Nội

Đt: 024 - 33 868 111 / 093 6079 249

Website: http://astera.vn/

Facebook: https://www.facebook.com/AsteraVietnam/

Email: info@astera.vn

➖ ➖ ➖ ➖ ➖ ➖ ➖ ➖ ➖ ➖ ➖ ➖ ➖ ➖ ➖ ➖

#Asteravietnam

#KhámchữabệnhtạiPháp

#Khámchữabệnhởnướcngoài

#utuyếntùng