Google Plus Youtube Facebook Twitter
Menu

U máu thể hang - Quả bom nổ chậm

U máu thể hang là một dị dạng mạch máu có thể xảy ra trong tủy sống, màng cứng, hoặc các dây thần kinh sọ. Tuy nhiên, bệnh được ghi nhận chủ yếu ở não. Khoảng 0,5% dân số mắc bệnh này trong đó 80% các ca bệnh là hang đơn ổ, không di truyền và 20% là đa ổ và có tính di truyền. Tại Pháp, u máu thể hang ở não chiếm 5%-10% các bệnh về dị dạng mạch máu não. Hiện nay vẫn chưa tìm ra nguyên nhân hình thành các u hang. Các u hang thường được chẩn đoán ở bệnh nhân trong độ tuổi từ 20 – 30 tuổi, cả nam và nữ.

Từ năm 1996, có ít nhất 200 gia đình ở Pháp mang thể di truyền căn bệnh này. Đây là thể di truyền tính trội, có nghĩa khoảng một nửa số con của những người này sẽ mang gen bệnh và có nguy cơ phát bệnh. Tuy nhiên, chỉ một số ít phát bệnh, khoảng 5% mang gen bệnh thể lành, số còn lại là những quả bom nổ chậm.

Tùy kích thước và vị trí của u máu thể hang mà các biểu hiện lâm sàng ở bệnh nhân khác nhau như các cơn động kinh, các rối loạn hoạt động hệ thần kinh, tăng áp lực nội sọ (nhức đầu, buồn nôn, nôn, rối loạn thị giác, buồn ngủ) hoặc có những bệnh nhân không có triệu chứng gì.

U máu thể hang là nguyên nhân gây ra các huyết khối làm tắc mạch máu (đặc biệt là các mạch máu não), dòng tuần hoàn sau hang bị tắc, dẫn đến hang bị to dần lên, giãn nở gây xuất huyết và vỡ. Xuất huyết não có thể gây rối loạn vận động hoặc cảm giác, đặc biệt là nếu chúng xuất hiện trong tủy sống.

Khi u máu thể hang không gây triệu chứng hoặc được đánh giá nguy cơ gây triệu chứng thấp, bác sĩ sẽ chưa chỉ định phẫu thuật và sẽ lên kế hoạch kiểm tra, kiểm soát bệnh chặt chẽ.

Khi u máu thể hang gây triệu chứng (ví dụ như các cơn động kinh, rối loạn hệ thần kinh), bác sĩ sẽ đánh giá khả năng điều trị và kiểm soát các triệu chứng bệnh đó, đồng thời xem xét khả năng phẫu thuật.

Đối với bệnh nhân u mạch máu thể hang ở não, khi bệnh gây triệu chứng (xuất huyết não, rối loạn hệ thần kinh trung ương, lên cơn động kinh) thì phẫu thuật là phương án điều trị duy nhất loại bỏ dị dạng hang, ngăn xuất huyết não, rối loạn chức năng thần kinh và các cơn động kinh. Thuốc không điều trị được căn bệnh này mà chỉ có thể điều trị tạm thời chứng động kinh và đau đầu.

Phẫu thuật u máu thể hang là một phẫu thuật khó, đòi hỏi kỹ thuật cao, chính xác để loại bỏ tất cả các u hang mà không làm tổn thương não và tủy sống.

Đối với u máu thể hang ở thân não, việc phẫu thuật để lại rất ít hoặc hoàn toàn không để lại di chứng. Đối với các u nằm ở vị trí sâu, khả năng phẫu thuật cần phải được cân nhắc đánh giá rất kĩ.

Quy trình và kĩ thuật phẫu thuật u máu thể hang ở não

Có hai kĩ thuật phẫu thuật là Phẫu thuật thường quy và xạ phẫu trong đó kỹ thuật xạ phẫu sử dụng các tia xạ với liều lượng vừa đủ để tiêu diệt u hang. Tuy nhiên, liệu pháp xạ phẫu có hạn chế là hiệu quả điều trị chỉ mang tính tương đối và chỉ được chỉ định trong một số trường hợp.

QUY TRÌNH NHẬP VIỆN VÀ PHẪU THUẬT

Thủ tục nhập viện:

Sau khi hoàn thành thủ tục, bệnh nhân được nhập viện. Đội ngũ y tá và điều dưỡng kiểm tra thông tin hồ sơ bệnh án của bệnh nhân. Bác sĩ phẫu thuật và gây mê đến thăm khám, tìm hiểu thêm thông tin bệnh và trả lời mọi câu hỏi của bệnh nhân. Một số các chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm (chụp MRI, X-quang, điện tâm đồ…) được thực hiện trước khi phẫu thuật.

Ngày phẫu thuật:

Bệnh nhân được đưa tới khu phẫu thuật : Tại khu phẫu thuật, nhân viên y tế sẽ kiểm tra một lần nữa toàn bộ thông tin cá nhân và thông tin bệnh án theo quy trình “Danh sách kiểm tra thông tin trước khi phẫu thuật”.

Bác sĩ gây mê tiến hành gây mê toàn thân cho bệnh nhân.

Bác sĩ phẫu thuật sẽ xác định chính xác vị trí u nhờ “thiết bị định vị thần kinh” nhằm chốt chính xác vị trí mổ, xâm lấn tối thiểu. Bác sĩ tiến hành rạch da, mở xương sọ và màng não để tiếp cận u hang và dễ dàng tách u hang ra khỏi não (xem hình bên dưới). Bác sĩ phẫu thuật phải đảm bảo bóc tách, loại bỏ hoàn toàn u máu hang và đóng các mạch máu nhỏ nếu có chảy máu. Sau đó, bác sĩ phẫu thuật lần lượt đóng màng não, sọ não, da và lắp 1 ống thông. Ống thông này sẽ được tháo 1-2 ngày sau khi phẫu thuật.

Khi đã loại bỏ hoàn toàn u hang, bệnh được chữa khỏi hoàn toàn, không tái phát.

Sau phẫu thuật:

Sau phẫu thuật, bệnh nhân được đưa vào phòng hồi sức, sau đó được chuyển sang phòng bệnh hoặc phòng chăm sóc đặc biệt nếu cần.

Chăm sóc giảm đau là một trong những ưu tiên hàng đầu và được thực hiện theo các quy định về giảm đau đối với từng bệnh nhân và loại bệnh.  

Việc theo dõi, giám sát sau phẫu thuật được thực hiện thường xuyên và chặt chẽ bởi đội ngũ y tá và điều dưỡng khoa thần kinh.  

Sau phẫu thuật có thể có một số sự khó chịu thoảng qua về da, tóc, phù nề, vết bầm…

Việc đứng dậy lần đầu tiên sau phẫu thuật, ăn lần đầu, vật lý trị liệu lần đầu (nếu có), tháo dịch truyền, ống thông tiết niệu có thể được đặt sau phẫu thuật sẽ được y tá, điều dưỡng thực hiện vào những ngày đầu sau thủ thuật.

Chụp MRI, CT sau phẫu thuật để khám, đánh giá mức độ thành công của ca phẫu thuật trước khi bệnh nhân được xuất viện.

Rủi ro của phẫu thuật:

Thực tế là không có phẫu thuật nào mà không có rủi ro. Tuy nhiên, những rủi ro này nằm trong tầm kiểm soát. Ngoài ra, việc phẫu thuật được lên kế hoạch kĩ càng và thực hiện chính xác cho phép giảm thiểu rủi ro. Bác sĩ phẫu thuật và bác sĩ gây mê sẽ trả lời mọi câu hỏi của bệnh nhân về vấn đề này.

Nguy cơ biến chứng:

  • Tụ máu
  • Viêm nhiễm
  • Vết mổ lâu lành, rò rỉ dịch não tủy, nhiễm trùng
  • Thiếu hụt chức năng thần kinh cục bộ tại vị trí khối u đã được bóc tách (khi vị trí khối u gần khu vực thần kinh chức năng như ngôn ngữ, vận động, cảm giác…). Nếu có xuất hiện các thiếu hụt chức năng này thì đây chỉ là thoảng qua và sẽ được phục hồi dần theo thời gian. Trong một số trường hợp hiếm hoi, sự phục hồi có thể không hoàn chỉnh.
  • Cơn động kinh sau phẫu thuật cũng có thể xảy ra một thời gian ngắn sau phẫu thuật (vài tuần, vài tháng, thậm chí sau vài năm). Bệnh nhân sẽ được điều trị động kinh để dứt điểm bệnh.

Đội ngũ y tá, điều dưỡng có nhiệm vụ ngăn chặn, giảm thiểu sự xuất hiện của các biến chứng. Mọi biến chứng sẽ được phát hiện sớm, thông báo cho bác sỹ và được điều trị theo quy ước thực hành tốt nhất. Vì vậy, việc theo dõi, giám sát hậu phẫu thuật là rất quan trọng trong những giờ đầu và những ngày đầu sau phẫu thuật.

Xuất viện:

Bác sĩ phẫu thuật sẽ đến gặp bạn trước khi xuất viện để đưa chỉ định chăm sóc, tập luyện, theo dõi tại nhà, đơn thuốc và lịch tái khám.

Báo cáo y tế và báo cáo phẫu thuật sẽ được gửi cho bệnh nhân và gửi cho bác sĩ điều trị để tiếp tục theo dõi.

Theo dõi từ xa sau phẫu thuật

Bác sĩ phẫu thuật và bác sĩ điều trị sẽ cùng phối hợp để theo dõi, giám sát tình hình bệnh nhân thông qua trao đổi thư từ, kết quả tái khám, kết quả chụp chiếu kiểm tra, kết quả xét nghiệm sinh học.

Bài: Pháp diệt khối u não không cần phẫu thuật

ASTERA VIETNAM

KHÁM CHỮA BỆNH TẠI PHÁP

Văn phòng tư vấn và hỗ trợ bệnh nhân

19 Bà Triệu – Hoàn Kiếm - Hà Nội

Tầng 8, tòa nhà Naforimex

Tel:  024-382 383 12/  0912 168 898/ 0914 038 747

Email: info@astera.vn  ***  Website: https://www.astera.vn

--------------------------------------------------------------------------------------------