Google Plus Youtube Facebook Twitter
Menu

Tiến bộ mới trong điều trị ung thư vú ở Pháp

Mỗi năm, ở Pháp có hơn 54.000 phụ nữ bị ung thư vú và trung bình cứ 8 phụ nữ thì có 1 người có nguy cơ mắc bệnh này. Tin vui là nhờ những tiến bộ trong nghiên cứu và điều trị, tỉ lệ sống sau 5 năm đạt mức cao trên 90%.

Những tiến bộ trong nghiên cứu cho phép phân loại ung thư vú thành 4 nhóm chính là: Ung thư Luminal loại A hoặc B, ung thư thể HER2 và ung thư loại basal-like.

Hai loại gen nguyên nhân gây ung thư đã được xác định là BRCA1 và BRCA2. Loại gen đột biến này có thể di truyền từ cha mẹ sang con và làm tăng đáng kể nguy cơ phát triển ung thư vú hoặc ung thư buồng trứng. Vì vậy, đối với những phụ nữ có mang một trong hai đột biến gen này, bác sĩ sẽ xây dựng phương án theo dõi riêng cho họ.

Điều trị ung thư vú theo mô thức chung bao gồm nhiều giai đoạn: phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, nội tiết và điều trị đích. Phẫu thuật là phương pháp điều trị ban đầu và quan trọng của căn bệnh này, kèm theo là nạo vét hạch nách thực hiện đồng thời trong khi phẫu thuật.

              

   Ung thư vú không phải là bệnh riêng của giới nữ

CÁC NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG KỸ THUẬT VÀ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ HIỆU QUẢ

Y tế Pháp luôn chú trọng áp dụng các liệu pháp điều trị hiện đại nhất, rất quan tâm đầu tư nghiên cứu phát minh các loại thuốc điều trị mới và các kĩ thuật tiên tiến nhằm cải thiện hiệu quả điều trị, đảm bảo chất lượng sống của bệnh nhân.

1- Liệu pháp trúng đích

Là liệu pháp có nhiều ưu điểm. Khác với hóa trị là tấn công không chọn lọc tất cả các tế bào của tổ chức lành cũng như ung thư, liệu pháp trúng đích nhằm khoanh vùng và chỉ nhắm tới các mô và nhóm tế bào ung thư. Do vậy cho phép bảo tồn các cơ quan lân cận.

Pháp là nước thực hiện thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn đầu tiên trên thế giới về liệu pháp trúng đích trong điều trị ung thư vú, phù hợp cho từng đối tượng bệnh. Từ đó, liệu pháp trúng đích được đưa vào điều trị rộng rãi và được nghiên cứu áp dụng cho các loại ung thư khác.

(Xem bài: Liệu pháp trúng đích điều trị ung thư tại đây)

2- Liệu pháp miễn dịch

Là liệu pháp ít xâm lấn.

Liệu pháp miễn dịch trong điều trị ung thư, nhất là ung thư giai đoạn tiến triển thực sự là một hy vọng lớn đối với bệnh nhân ung thư vú. Điểm quan trọng của liệu pháp này là giúp hệ miễn dịch tự nhận diện ra tế bào ung thư và chủ động sản xuất kháng thể tấn công, loại bỏ chúng.

Tháng 6 năm 2016, tại Hội nghị về ung thư Thế giới tổ chức ở Chicago Mỹ, một nhóm các nhà khoa học thuộc bệnh viện Gustave Roussy Paris Pháp đã công bố liệu pháp điều trị miễn dịch mới là Nivomulab điều trị các loại ung thư «phụ nữ» như ung thư sinh dục nữ và cổ tử cung. Liệu pháp này đã cho phép ổn định bệnh ở 70% bệnh nhân và đẩy lùi bệnh ở 20% bệnh nhân. Các nhà khoa học Pháp đang nhắm tới điều trị ung thư vú rất có triển vọng và khả quan bằng liệu pháp miễn dịch.

(Xem bài: Điều trị ung thư bằng liệu pháp miễn dịch tại đây)

3- Y học chính xác

Đối với một số loại ung thư, dấu ấn sinh học mang đặc trưng của khối u và là chỉ dấu hướng tới phác đồ điều trị phù hợp và chính xác với bản chất của khối u đó. Với ung thư vú, 4 dấu ấn sinh học (HER2, ER, PR, Ki67) cho phép lên phác đồ điều trị chính xác cho bệnh nhân. Với loại ung thư vú dương tính với HER2, phác đồ điều trị mới cho phép tăng đáng kể tỉ lệ sống sau 5 năm của bệnh nhân, đồng thời bệnh nhân không phải hóa trị.

Một số các dấu ấn sinh học khác hiện vẫn đang được thử nghiệm lâm sàng.

4- Phác đồ điều trị hiệu quả

Kết hợp các phương pháp điều trị nhắm trúng đích, liệu pháp miễn dịch, Y học chính xác và các tiến bộ phát minh nhiều loại thuốc mới, các nhà khoa học Pháp đã tìm ra nhiều phác đồ điều trị hiệu quả.

Khoảng 10 năm trước, thuốc Herceptin, loại thuốc “kì diệu” đầu tiên đã thay đổi cuộc sống của bệnh nhân, được sử dụng sau phẫu thuật và đồng thời với hóa trị. Thuốc Herceptine đã tăng sự sống sau 5 năm của bệnh nhân lên 95% so với 66% trước đó.

Hiện nay, một phác đồ điều trị mới còn cho phép tăng tỉ lệ sống sau 5 năm lên cao hơn, đồng thời bệnh nhân không phải hóa trị. Phác đồ này phối hợp giữa Herceptine và thuốc Tyverb, được dùng cho bệnh nhân ngay sau khi chẩn đoán ung thư vú. Đây là sự kết hợp hiệp đồng giữa một loại thuốc tấn công ung thư từ bên ngoài còn loại kia tấn công các tế bào ung thư từ bên trong. Phác đồ này rất hiệu quả, áp dụng cho ung thư vú dương tính với HER2, khiến các tế bào ung thư ngừng sinh sôi và nhanh chóng chết đi.

5- Kĩ thuật nghiên cứu hạch gác

Chọn phác đồ điều trị ung thư vú tùy thuộc vào mức độ xâm lấn của khối  u. Nhìn chung hầu hết các trường hợp đều phải phẫu thuật cắt bỏ khối u (hoặc cắt bỏ cả vú nếu khối u to hoặc có nhiều nhân), thậm chí phải loại bỏ hết các hạch bạch huyết ở nách.

Việc nạo vét hạch triệt căn có thể gây nguy cơ phù bạch huyết cánh tay cao, nguy cơ này tăng tỷ lệ thuận với mức độ vét hạch và đặc biệt khi có tia xạ đi kèm. Những biến chứng khác cũng hay gặp khi nạo vét hạch nách bao gồm: hội chứng thần kinh cảm giác, giảm hoặc mất vận động cánh tay …

Ngày nay, “Kĩ thuật nghiên cứu hạch gác” cho phép xác định có cần phải loại bỏ hạch nách hay không. Nhờ kỹ thuật này, khoảng 65% bệnh nhân ung thư vú giai đoạn sớm sẽ không cần vét hạch nách nếu kết quả kiểm tra cho thấy hạch nách không bị di căn.

6- Phát hiện chu trình di chuyển và phát triển của tế bào ung thư

Các tế bào ung thư phát triền bằng cách tách khỏi khối u và di chuyển trong cơ thể trước khi “định cư” để phát triển tại một tổ chức mới. Phương pháp thử máu cho phép phát hiện ra các tế bào ung thư di chuyển để theo dõi sát sao sự tiến triển bệnh ở giai đoạn di căn và điều chỉnh phác đồ điều trị tương ứng.

(Xem bài: tế bào trinh sát tại đây)

7- Phẫu thuật xuất viện trong ngày

Trong quá trình điều trị, để tạo điều kiện tối đa cho bệnh nhân và rút ngắn thời gian nằm viện, trước khi điều trị, bác sĩ cùng ê-kíp sẽ tập hợp toàn bộ hồ sơ bệnh án của bệnh nhân để chẩn đoán liên chuyên khoa và lên phác đồ điệu trị tối ưu. Nếu hội tụ đủ điều kiện, bệnh nhân có thể được phẫu thuật loại bỏ khối u buổi sáng và xuất viện vào cuối buổi chiều.

Việc quyết định phẫu thuật bảo tồn hay cắt toàn bộ ngực tùy thuộc vào đặc tính của khối u, kích cỡ ngực và mong muốn của bệnh nhân. Tại Châu âu, cứ 3 bệnh nhân thì 2 bệnh nhân được phẫu thuật bảo tồn ngực.

(Xem bài: Phẫu thuật ung thư vú xuất viện trong ngày tại đây)

8- Gây mê bằng thôi miên

Các kĩ thuật điều trị êm dịu hơn cho thấy hiệu quả điều trị được cải thiện rõ rệt. Rất nhiều phẫu thuật trong đó có cả phẫu thuật cắt toàn bộ vú được thực hiện bằng gây mê thôi miên. Kĩ thuật này tránh được những nguy cơ biến chứng và mệt mỏi do gây mê toàn thân gây ra.

     

9- Kỹ thuật tái tạo ngực xâm lấn tối thiểu DIEP mới

Tái tạo ngực có thể được làm ngay sau khi cắt bỏ ngực hoặc có thể làm sau tùy mong muốn của bệnh nhân. Bệnh nhân không cần phải đợi 2 năm để tái tạo ngực. Cho đến nay, không có bằng chứng nào về việc tái tạo ngực sẽ làm ảnh hưởng tới việc tiến triển bệnh hoặc dễ tái phát bệnh.

(Xem bài: Tạo hình vú bằng kỹ thuật xâm lấn tối thiểu DIEP mới)

10- Phát triển các phương pháp chẩn đoán mới

Các kĩ thuật chẩn đoán hình ảnh mới liên tục được nghiên cứu nhằm cải thiện kết quả chẩn đoán bệnh.

(Xem bài: Tầm soát ung thư vú)

ASTERA VIETNAM

KHÁM CHỮA BỆNH TẠI PHÁP

Văn phòng tư vấn và hỗ trợ bệnh nhân

19 Bà Triệu – Hoàn Kiếm - Hà Nội

Tầng 8, tòa nhà Naforimex

Tel:  024-382 383 12/  0912 168 898/ 0914 038 747

Email: info@astera.vn  ***  Website: https://www.astera.vn

--------------------------------------------------------------------------------------------