Google Plus Youtube Facebook Twitter
Menu

Tầm soát ung thư Gan Tụy

Các phương pháp tầm soát ung thư gan được thực hiện trước khi một người có triệu chứng bệnh, nhằm giúp tìm ra ung thư ở giai đoạn sớm nhất. Nếu phát hiện các mô bất thường, hoặc ung thư giai đoạn đầu, điều trị sẽ dễ dàng hơn. Khi người bệnh nhận thấy có điều gì đó bất ổn, thường là khi bệnh ung thư đã bắt đầu lây lan.

Mặc dù hiện nay không có các xét nghiệm sàng lọc chuẩn hoặc thường xuyên cho bệnh ung thư gan, nhưng các xét nghiệm sau đây vẫn có thể kiểm tra tình trạng gan được như:

+ Chụp CT:

Khi tiến hành chụp CT, các bác sĩ sẽ thấy hình ảnh chi tiết của gan từ nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, để hình ảnh hiện lên rõ hơn, các bác sĩ có thể thực hiện thêm một thủ thuật nhỏ là tiêm thuốc nhuộm vào tĩnh mạch rồi mới tiền hành thực hiên tầm soát ung thư gan. Trong các loại máy thường dùng ngày nay, máy chụp CT MSCT 64 chính là loại máy hiện đại nhất. Cái loại máy này sẽ là công cụ hỗ trợ rất hiệu quả việc chẩn đoán ung thư nhanh, chính xác.

+ Siêu âm:

Đây là một trong những cách giúp quan sát toàn bộ gan để phát hiện sớm và rõ ràng nhất những bất thường hay bệnh ung thư gan

+ Dấu ấn sinh học:

Đây là phương pháp dùng chất để “nhận diện” khối u trong máu hoặc các mô. Những chất này còn có một tên gọi khác là “chỉ điểm khối u”. Trong đó, Alpha-fetoprotein (AFP) được cho là chất chỉ điểm khối u được sử dụng rộng rãi nhất cho việc phát hiện ung thư ở gan

+ Xét nghiệm men gan

 AST, ALT: Là 2 loại enzym được giải phóng khi có tổn thương tế bào và đưa ra những dấu hiệu về chức năng gan. ALT có nhiều ở các tế bào nhu mô gan và AST không chỉ có nhiểu trong gan mà còn có trong cơ tim, cơ vân, thận, não, tủy, phổi. Việc xác định nồng độ AST và ALT cho phép đánh giá các mức độ hủy hoại của tế bào nhu mô gan, từ đó có thể xác định về tình trạng gan của bạn.

GGT: Là loại men thể hiện chức năng của gan, mật và một số cơ quan khác. GGT có thể tăng trong các bệnh như viêm gan virus, do rượu, do sốt rét, xơ gan, gan nhiễm mỡ, viêm đường dẫn mật, ngộ độc gan, sỏi mật, u gan.

ALP: ALP tăng nhẹ và vừa có thể gặp trong viêm gan, xơ gan, di căn hoặc thâm nhiễm ở gan. Trường hợp ALP tăng cao gấp 3 – 10 lần bình thường là biểu hiện của tắc mật trong hoặc ngoài gan.

+ Xét nghiệm bilirubin huyết thanh

Bilirubin là sản phẩm chuyển hóa của hemoglobin trong hồng cầu. Khi bilirubin vượt quá giới hạn bình thường trong máu sẽ gây ra triệu chứng vàng da, vàng mắt. Bilirubin trực tiếp tăng trong nhiều bệnh lý gan mật khác nhau do giảm bài tiết bilirubin vào tiểu quản mật hoặc do ứ mật trong gan hay ngoài gan.

+ Xét nghiệm Bilirubin niệu

Bình thường không phát hiện bilirubin trong nước tiểu. Khi có bilirubin niệu là một dấu hiệu sớm của bệnh lý tế bào gan hoặc tắc mạch trong gan hoặc ngoài gan.

+ Xét nghiệm Urobilinogen

Urobilinogen là chất chuyển hóa của bilirubin tại ruột, được tái hấp thu vào máu và sau đó cũng được bài tiết qua nước tiểu. Urobilinogen tăng trong nước tiểu gặp trong trường hợp tán huyết hoặc bệnh lý gan.

+ Xét nghiệm Albumin huyết thanh

Albumin là một trong những protein do tế bào gan tổng hợp. Lượng albumin máu giảm trong các bệnh gan mạn tính hoặc khi tổn thương gan rất nặng.

+ Thời gian Prothrombin

Xét nghiệm này dùng để đánh giá chức năng tổng hợp các yếu tố đông máu của gan. Khi gan bị tổn thương, một số yếu tố đông máu sẽ không tạo được. Do vậy, máu sẽ chậm đông lại và thời gian prothrombin sẽ thấy kéo dài. Thời gian prothrombin càng dài thì chức năng gan càng suy giảm.

+ Xét nghiệm CA 19-9

CA 19-9 là một kháng nguyên có ở tế bào tuyến của các tạng như dạ dày, ruột, vú, phổi… và đặc biệt là tuyến tuỵ. Trong ung thư các tạng trên thường có tăng CA 19-9. Xét nghiệm CA 19-9 thường được áp dụng để theo dõi đáp ứng điều trị của người bệnh ung thư tuyến tụy và/hoặc tiến triển của ung thư, đánh giá nguy cơ tái phát ung thư tuyến tụy, đôi khi được dùng để hỗ trợ chẩn đoán ung thư tuyến tụy.

Ung thư tụy

Hình ảnh ung thư tuyến tụy

CA 19-9 chỉ có thể được sử dụng như một dấu ấn ung thư nếu ung thư sản xuất ra nhiều kháng nguyên này. Bởi vì nồng độ CA 19-9 tăng trong khoảng 65%  ở những người bị ung thư đường mật, xét nghiệm CA 19-9 có thể được thực hiện để đánh giá điều trị và theo dõi tiến triển bệnh của những người bị loại ung thư này.

Xét nghiệm CA 19-9 không đủ nhạy, nên xét nghiệm này không hữu ích trong phát hiện và chẩn đoán ung thư vì nhiều bệnh lý không phải ung thư cũng có nồng độ CA 19-9 tăng ví dụ như viêm dạ dày ruột, bệnh phổi mạn tính, bệnh gan mạn, viêm tuyến vú mạn tính, viêm tuỵ mạn....

+ Xét nghiệm AFP

Là xét nghiệm được ứng dụng nhiều để chẩn đoán ung thư gan sớm và cho độ chính xác cao. Phương pháp xét nghiệm AFP được triển khai rộng rãi để hỗ trợ chẩn đoán và điều trị hiện nay.

Alpha - fetoprotein (AFP) là một globulin được hình thành trong túi noãn hoàng và gan của bào thai. Nếu thai phát triển bình thường, nồng độ AFP được tìm thấy trong huyết thanh của mẹ sẽ tăng lên. Chỉ một lượng không đáng kể AFP vẫn còn lại trong dòng tuần hoàn sau sinh.

AFP cũng được coi như một chất chỉ điểm (marker) khối u đối với một số loại ung thư như: ung thư gan nguyên phát (hepatocellular carcinoma [HCC]), ung thư tinh hoàn, buồng trứng. Các ung thư  đặc trưng điển hình bằng các tế bào không được biệt hóa, vì vậy các tế bào này thường vẫn mang các chất chỉ điểm bề mặt (serface marker) tương tự như các chất chỉ điểm được tìm thấy ở bào thai. Khi nồng độ AFP tăng cao, khả năng có ung thư càng lớn.

Tăng nồng độ AFP máu:

  • Ung thư tế bào gan tiên phát (primary hepatocellular carcinoma).
  • Các bệnh lý gan – mật lành tính: Xơ gan mật, viêm gan cấp do virus, viêm gan mạn tiến triển.
  • Các ung thư đường tiêu hóa có kèm theo hay không kèm theo di căn gan: ung thư đại tràng, ung thư dạ dày, ung thư tụy.
  • Các ung thư khác có thể gặp: ung thư vú, ung thư phổi, ung thư thận, ung thư tinh hoàn, quái ác tính (teratocarcinoma).
  • Các khuyết tật ống thần kinh của thai (fetal neural tube defect).
  • Đa thai (multiple fetuses).
  • Các nguyên nhân khác: dị tật bẩm sinh dãn mao mạch thất điều (ataxia telangiectasia), tăng nồng độ tyrosin máu di truyền (hereditary tyrosinemia).

+ Xét nghiệm Gamma GT

Tăng Gamma GT huyết thanh, các nguyên nhân chính  thường gặp trong các bệnh lý gan mật:

  • Rượu: thoái hóa mỡ, thoái hóa mỡ xơ hóa, xơ gan, viêm gan do rượu.
  • Thuốc: Phenobarbital, phenytoin, warfarin, thuốc ngừa thai uống, rifampicin
  • Viêm gan nhiễm trùng: viêm gan A, B, không A, không B, tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng, bệnh do toxoplassmose, nhiễm trùng do cytomegalovirus.
  • Viêm gan mạn tính.
  • Suy tim mất bù (gan ứ huyết).

+ Xét nghiệm viêm gan B

Có 5 loại xét nghiệm chính:

1. Xét nghiệm viêm gan B định tính HBsAg: HBsAg chính là kháng nguyên bề mặt của virut viêm gan B. Nếu chỉ số dương tính (HBsAg+) thì bạn đã nhiễm siêu vi B chứ chưa chắc đã mắc bệnh viêm gan siêu vi B. Cần thực hiện xét nghiệm men gan để chắc chắn. Xét nghiệm HBsAg sớm mang ý nghĩa tích cực đối với người bệnh.

2. Xét nghiệm Anti-HBc (HBc-Ab): Là kháng thể kháng lõi virut viêm gan B, nó xuất hiện sớm và tồn tại suốt đời. Nếu xét nghiệm dương tính bạn có thể đã tiếp xúc với người nhiễm virus viêm gan b. Tuy nhiên xét nghiệm này không chắc là virus viêm gan B trong cơ thể có hoạt động hay không. Cần thực hiện các xét nghiệm tiếp theo để kết quả chính xác hơn.

3. Xét nghiệm Anti-HBs (HBs-Ab): Là  kháng thể bảo vệ cơ thể khỏi nhiễm virus viêm gan B. Loại kháng thể này chia làm 2 trường hợp, một là bệnh nhân đã từng nhiễm virus viêm gan B từ ngoài môi trường, có thể có biểu hiện của viêm gan B cấp hoặc không nhưng hiện tại cơ thể đã loại bỏ hoàn toàn virus viêm gan B ra khỏi cơ thể và tạo ra kháng thể bảo vệ. Trường hợp thứ 2 là kháng thể Anti HBs được tạo ra nhờ vào việc người bệnh được tiêm vacxin phòng bệnh viêm gan B

4. Xét nghiệm HbeAg: Kháng nguyên e của virus viêm gan B được coi là một phần kháng nguyên lõi, là một dạng protein virus do các tế bào nhiễm HBV tiết ra. Nếu kết quả cho dương tính thì virus viêm gan b trong cơ thể đang hoạt động mạnh và có thể nhân đôi, khả năng lây lan mạnh. Nên sử dụng thuốc điều trị ngăn cản sự hoạt động của virus. Nếu sau 3 tháng kết quả này vẫn dương tính thì nghĩa là viêm gan B cấp tính đang chuyển sang mãn tính. HBeAg âm tính có hai khả năng: virut không hoạt động hoặc virut không đột biến. Để biết kết quả chính xác cần phải tiến hành thêm một số xét nghiệm khác.

5. Anti Hbe: là kháng thể kháng HBeAg. Là tiêu chí hạn chế, kìm hãm hoặc ngăn chặn sự nhân bản của virus viêm gan B. Nhưng Anti-HBe và anti HBs không đồng nhất, Anti-HBe không phải kháng thể bảo hộ, không nói lên được rằng bệnh nhân có miễn dịch với virus viêm gan B hay không. Tình trạng HBeAg âm tính và Anti HBe dương tính gặp trong trường hợp cơ thể đã bước vào giai đoạn nhiễm HBV mạn tính, virus không nhân lên, hoặc thể đột biến, nghĩa là virus vẫn đang nhân lên nhưng cơ thể không ức chế được bằng Anti HBe.

Thông thường các bác sĩ sẽ khuyên bạn nên thực hiện cả xét nghiệm để đảm bảo tính chính xác. Tuy nhiên nếu bạn thực hiện ở bước 1 là xét nghiệm HBsAg âm tính thì bạn có thể tiêm vacxin phòng bệnh và không phải làm thêm các xét nghiệm khác cho tốn kém.

+ Xét nghiệm viêm gan C

Có Anti HCV (+)  dương tính: điều này có nghĩa BN đã hoặc đang nhiễm siêu vi C, người ta sẽ tiếp tục tiến hành xét nghiệm HCV-RNA.

Nếu HCV-RNA (-) âm tính có nghĩa BN đã nhiễm siêu vi C nhưng đã loại trừ được vi rút, không có chỉ định điều trị.

Nếu HCV-RNA (+) dương tính có nghĩa BN đang bị nhiễm siêu vi C có chỉ định điều trị.

Khi đã xác định bị nhiễm siêu vi C thì nên tiến hành xét nghiệm cả siêu vi B và HIV vì 3 loại vi rút này cùng chung đường lây bệnh.

Việc xác định sớm được bệnh ung thư gan sẽ làm tăng khả năng chữa trị thành công cũng như sống sót cao hơn. Vì thế khi có bất cứ dấu hiệu nào khả nghi các bạn hãy nên nhanh chóng tiến hành tầm soát ung thư gan.