Google Plus Youtube Facebook Twitter
Menu

Phẫu thuật thay khớp háng nhân tạo

Hàng năm, tại Pháp thực hiện hơn 150.000 ca phẫu thuật thay khớp háng. Bệnh nhân là người Pháp và khách hàng trên toàn thế giới.

Thay khớp háng là một trong những phẫu thuật phổ biến nhất tại Pháp. Các bác sĩ phẫu thuật cho rằng con số này sẽ không ngừng tăng lên theo tỉ lệ già hóa dân số. Thay khớp háng cho phép các bệnh nhân ngày càng tự chủ trong cuộc sống, giúp cải thiện chất lượng sống và nhờ đó tăng tuổi thọ.

Trong số 150 000 ca thay khớp háng/năm, có 130.119 ca (tương đương 86%) là thay mới, còn lại là thay thế lần 2 sau thời hạn sử dụng.

Ca phẫu thuật thay khớp háng toàn phần đầu tiên trên thế giới được hai anh em nhà JUDET thực hiện tại Paris, Pháp năm 1946. Từ đó đến nay, phẫu thuật can thiệp khớp háng ngày càng được cải tiến, khớp háng nhân tạo cũng ngày càng được cải thiện, giúp kéo dài tuổi thọ của khớp đồng thời giúp bệnh nhân nhanh chóng trở lại cuộc sống bình thường mà không đau đớn.

Là một trong những bộ phận quan trọng nhất của cơ thể. Khớp háng nâng đỡ sức nặng của cơ thể ở cả tư thế tĩnh (đứng) lẫn động (đi lại, chạy nhảy…). Nếu khớp háng bị mòn hay bị tổn thương sẽ gây đau và khó khăn cho việc đi lại, khả năng làm việc cũng sút kém.

Có ba nguyên nhân gây bệnh về khớp háng
  • Nguyên nhân thứ nhất mà nhóm bệnh nhân trẻ tuổi thường mắc phải là do bị rách sụn chêm hoặc do xung đột giữa cổ xương đùi và xương chậu.
  • Nguyên nhân thứ hai do viêm khớp háng nặng, thường gặp ở những bệnh nhân trên 50 tuổi.
  • Nguyên nhân thứ ba do hoại tử khớp háng hoặc cổ xương đùi. Bệnh này có thể gặp ở độ tuổi 30 đến 50 tuổi. Khớp háng và cổ xương đùi hoại tử dần nên các bệnh nhân thuộc nhóm này thường phải thay toàn bộ khớp háng.

Bác sĩ chỉ quyết định thay khớp háng khi các liệu pháp điều trị thông thường bằng thuốc, đặc biệt là thuốc chống viêm và phục hồi chức năng không còn hiệu quả.

Kỹ thuật mới trong phẫu thuật khớp háng

- Phẫu thuật nội soi khớp háng là kĩ thuật mới, đòi hỏi trang thiết bị hiện đại và chỉ có bệnh viện ở Pháp và một số nước phát triển được trang bị đầy đủ để thực hiện kĩ thuật này. Kĩ thuật này cho phép phẫu thuật mà không phải mở khớp. Bệnh nhân không phải nằm viện và có thể xuất viện ngay.

- Phẫu thuật thay khớp háng xâm lấn tối thiểu, cho phép thay khớp mà không gây chấn thương cơ, chỉ có một đường mổ 6-7cm. Kỹ thuật này cho phép rút ngắn thời gian nằm viện và đang hướng tới mục tiêu phẫu thuật ngoại trú, bệnh nhân xuất viện trong ngày.

VÀI NÉT VỀ KHỚP HÁNG NHÂN TẠO

Khớp giả được làm bằng nguyên vật liệu cứng và bền. Phần xương đùi được làm bằng thép không rỉ. Đầu xương đùi là kim loại hoặc sứ. Ổ cối là phần cố định trên khung xương chậu được làm bằng nhựa cứng polyethylene hoặc sứ. Ngày nay, khớp giả bằng kim loại và sứ có thể kéo dài hơn 30 năm.

Khớp háng nhân tạo

Thiết kế của khớp

Khớp háng là khớp lồi cầu vì chỏm xương đùi (đầu trên xương đùi) chuyển động bên trong ổ cối (thuộc xương chậu).

Để giống với tính chất này, một khớp háng nhân tạo phải có 3 phần: chuôi (stem) để gắn vào ống tủy xương đùi, chỏm (Head) thay thế chỏm xương đùi và Cup thay thế ổ cối của xương chậu. Mỗi phần được sản xuất với nhiều kích cỡ khác nhau, phù hợp với từng kích cỡ của người bệnh.

Có vài thiết kế chỏm dính liền chuôi, nhưng chủ yếu chỏm và chuôi gồm hai phần riêng biệt, giúp tùy biến về độ dài cổ cho phù hợp.

 

Các thành phần của một khớp háng nhân tạo

Hiện nay có nhiều hãng sản xuất khớp háng nhân tạo. Sử dụng thương hiệu nào phụ thuộc các yếu tố như nhu cầu người bệnh (tuổi, chất lượng xương, cân nặng, mức độ hoạt động và tình trạng sức khỏe), kinh nghiệm và thói quen sử dụng loại thiết bị của phẫu thuật viên, giá thành của khớp… Đây là những vấn đề mà người bệnh cần thảo luận cùng bác sĩ trước khi quyết định phẫu thuật thay khớp.

Cấu trúc của khớp

Chỏm được làm bằng cobalt/crom hoặc chất liệu gốm (oxid nhôm), bề mặt chỏm được đánh bóng giúp giảm tối đa lực ma sát, hạn chế mài mòn khi chỏm chuyển động trong Cup.

Cup gắn vào ổ cối được làm bằng kim loại. Lót mặt trong Cup là hợp chất cao phân tử polyethylene hoặc gốm.

Tổng trọng lượng của khớp nặng từ 14-18 ouns (400-510 gram) tùy thuộc kích cỡ của từng loại.

Các vật liệu tham gia cấu tạo nên khớp háng có 4 đặc điểm chung:

  • Tương thích sinh học: có thể tồn tại trong cơ thể mà không gây ra bất kỳ một phản ứng toàn thân nào với cơ thể.
  • Có khả năng chống mài mòn và suy thoái, vì vậy khớp nhân tạp có độ bền theo thời gian. Tính chất chống mài mòn đặc biệt quan trọng trong việc duy trì chức năng của khớp cũng như ngăn ngừa sự phá hủy của xương do các mảnh vỡ từ sự mài mòn của khớp nhân tạo gây ra.
  • Chịu được những tác động cơ học do quá trình hoạt động của con người gây ra như lực tải trọng, lực nén, lực vặn xoắn.
  • Đáp ứng được với các tiêu chuẩn cao nhất trong quá trình chế tạo và kiểm soát chất lượng, với chi phí hợp lý.

Khớp có xi măng

Khớp háng toàn phần có xi măng

Trong hơn 40 năm qua, khớp có xi măng đã có nhiều cải tiến cả về vật liệu lẫn kỹ thuật nhằm gia tăng khả năng cố định khớp vào xương đùi và ổ cối. Ngày nay, xi măng xương thường được sử dụng là một polymer acrylic được gọi là polymethylmethacrylate (PMMA).

Bệnh nhân sau thay khớp háng có xi măng có thể vận động sớm, đi lại có tỳ toàn bộ trọng lượng cơ thể ngay sau mổ, vì vậy khả năng phục hồi nhanh hơn. Mặc dù được ghi nhận là thành công nhưng khớp háng có xi măng không phải là lý tưởng cho tất cả mọi bệnh nhân.

Sự gắn kết của xi măng dựa trên sự ổn định trên bề mặt giữa kim loại và xi măng, xi măng và xương. Chuôi khớp ngày nay được làm bằng loại hợp kim ít có khả năng gãy, chủ yếu khớp hỏng do lỏng chuôi. Lỏng chuôi được cho là hậu quả của hai quá trình hoạt động cơ học và sinh học:

Vỡ xi măng sau một quá trình vận động được xem là nguyên nhân chính (cơ học) gây nên tình trạng lỏng chuôi. Tình trạng này dễ xảy ra hơn đối với bệnh nhân có mức hoạt động lớn hơn hoặc bệnh nhân có cân nặng lớn. Các mảnh vỡ nhỏ do quá trình mài mòn giữa nhựa (lót trong Cup) và kim loại (từ chỏm), và các mảnh vỡ nhỏ của xi măng gây ra một phản ứng sinh học tại xương, làm tiêu xương xung quanh chuôi và cup, là nguyên nhân thứ hai gây lỏng khớp (nguyên nhân sinh học).

Các mảnh vỡ nhỏ được hấp thụ bởi các tế bào (đại thực bào) xung quanh khớp nhân tạo, tạo ra một phản ứng viêm của cơ thể để cố gắng loại bỏ chúng. Phản ứng viêm này đồng thời loại bỏ luôn cả một phần xương xung quanh khớp nhân tạo, tạo nên hiện tượng tiêu xương, làm cho xương suy yếu và mất ổn định. Tiêu xương có thể xẩy ra xung quanh chuôi và cup.

Mặc dù có những cơ chế thất bại được công nhận. Mối quan hệ giữa xi măng và xương nói chung là rất bền và đáng tin cậy. Thay khớp háng toàn phần có xi măng được khuyên dùng cho bệnh nhân lớn tuổi, hoặc bệnh nhân trẻ hơn nhưng có tình trạng sức khỏe hoặc chất lượng xương kém. Những bệnh nhân này đều có tình trạng hoạt động không lớn, ít gây lực nén lên khớp.

Khớp không xi măng

Khớp háng toàn phần không xi măng

Trong những năm 1980, kiểu dáng khớp mới đã được giới thiệu, là loại khớp gắn trực tiếp vào xương mà không cần xi măng. Nói chung, loại khớp này được thiết kế có kích thước lớn hơn và dài hơn so với khớp có xi măng. Khớp không xi măng đặc biệt chú trọng đến khả năng “mọc” xương vào bề mặt khớp nhân tạo (bone ingrowth) để tạo sự gắn kết giữa xương và khớp. Chính vì vậy, cấu trúc bề mặt của khớp không nhẵn mịn như khớp có xi măng mà thô ráp, có nhiều hốc nhỏ. Để kích thích tạo sự mọc xương vào bề mặt khớp, các nhà sản xuất còn cho phủ lên bề mặt khớp nhân tạo những hợp chất có khả năng kích thích sự mọc xương, gọi là chất HA (Hydroxiapatite).

Để xương phát triển vào bề mặt khớp nhân tạo, bệnh nhân sau thay khớp háng loại này không đi lại có tỳ trọng lượng ngay sau mổ như loại khớp có xi măng mà phải dùng nạng trợ đỡ trong thời gian đầu.

Ban đầu người ta hy vọng rằng, khớp không xi măng sẽ loại trừ được các nhược điểm của khớp có xi măng như lỏng khớp do tiêu xương, vỡ xi măng. Mặc dù thiết kế khớp không xi măng được đánh giá là có khả năng mang lại kết quả tuyệt vời và lâu dài, tuy nhiên lỏng khớp vẫn xẩy ra khi sự mọc xương ăn vào bề mặt khớp không đạt được.

Cũng như khớp có xi măng, khớp không xi măng cũng có phản ứng sinh học dẫn đến tiêu xương khi hiện tượng bào mòn của khớp xẩy ra. Chính vì vậy, nghiên cứu chất liệu để hạn chế tối đa sự bào mòn khớp đang là hướng đi hiện tại và tương lai của các nhà sản xuất khớp.

Khớp không xi măng được chỉ định cho bệnh nhân trẻ hơn, mức độ hoạt động cao, chất lượng xương còn tốt.

Khớp toàn phần lai (hybrid)

Một khớp háng toàn phần lai (hybrid) gồm hai phần, phần Cup gắn vào ổ cối thường không xi măng, phần chuôi gắn vào thân xương đùi thường có xi măng. Kỹ thuật này được giới thiệu vào đầu những năm 1980, đến nay kết quả vẫn còn đang được đánh giá.

Khớp bán phần

Khớp bán phần

Khớp háng có hai phần chính: chỏm thuộc xương đùi và ổ cối thuôc xương chậu. Nếu tổn thương một trong hai phần thì chỉ thay phần tổn thương được khuyến cáo, được gọi là thay khớp háng bán phần. Trong phần lớn các trường hợp ổ cối được giữ nguyên, còn chỏm xương đùi được thay thế. Hình thức phổ biến nhất của khớp háng bán phần là khớp lưỡng cực. Thay khớp háng bán phần thường được chỉ định cho tổn thương cổ, chỏm xương đùi ở người già, cần rút ngắn thời gian phẫu thuật. Hiện nay gãy phức tạp khối mấu chuyển ở người lớn tuổi  cũng được chỉ định thay khớp háng bán phần trong một số trường hợp, người bệnh có thể vận động sớm ngay sau mổ.

Khớp tái tạo bề mặt (Resurfacing)

Khớp tái tạo bề mặt (Resurfacing)

Một kỹ thuật mới hơn để thay thế khớp háng mà gần đây đang nổi lên được gọi là khớp tái tạo bề mặt. Trong kỹ thuật này, việc thay thế phần ổ cối được tiến hành tương tự trong thay khớp háng toàn phần. Tuy nhiên, phần chỏm xương đùi được thay thế bằng việc phủ một chén hình bán cầu có kích thước bằng kích thước chỏm thật, bảo tồn xương thuộc phần cổ xương đùi. Phần chén hình bán cầu được gắn chặt vào cổ xương đùi bằng xi măng và một cán ngắn đóng vào cổ xương đùi.

Khớp có cán vặn

Khớp có cán vặn

Một kỹ thuật mới được giới thiệu trong vài năm gần đây là thay khớp toàn phần không xi măng, trong đó phần xương đùi chỉ thay  chỏm, cổ xương đùi được giữ nguyên. Phần chỏm kim loại được gắn chặt vào cổ xương đùi bằng một cán vặn (có ren).

Cả khớp tái tạo bề mặt và khớp có cán vặn ưu thế cho bệnh nhân trẻ tuổi, tổn thương khớp háng nhưng phần cổ xương đùi còn nguyên.

Tuổi thọ của khớp

Phẫu thuật thay khớp háng đã mang lại nhiều thành công to lớn, giúp người bệnh cải thiện tình trạng đau, phục hồi khả năng vận động của khớp. Tuy nhiên những vấn đề đang diễn ra như sự mòn khớp, sự tiêu xương do phản ứng sinh học từ các mảnh vỡ của sự mài mòn đang là vấn đề lớn, ấn định giới hạn về tuổi thọ của khớp nhân tạo. Theo kết quả nghiên cứu của Mỹ, 80% khớp háng nhân tạo có thể kéo dài được 20 năm.

 PHẪU THUẬT THAY KHỚP HÁNG TOÀN BỘ ĐƯỢC THỰC HIỆN THẾ NÀO

Phẫu thuật thay khớp háng được chỉ định khi có tổn thương khớp háng về mặt giải phẫu nặng nề ảnh hưởng đến sinh hoạt, học tập và lao động của bệnh nhân. Các bệnh lý chính được chỉ định là: thoái hoá khớp háng, hoại tử chỏm xương đùi vô khuẩn, gãy cổ xương đùi ở người già. Bản chất của phẫu thuật này là thay thế phần khớp háng bị tổn thương bằng khớp nhân tạo. Kết quả của phẫu thuật phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó sự phối hợp giữa bệnh nhân và bác sỹ rất quan trọng. Việc hiểu rõ các bước của quá trình phẫu thuật giúp bệnh nhân có sự phối hợp tốt hơn với bác sỹ trong quá trình điều trị.

Sau khi rạch da và bóc tách phần mềm, quá trình thay khớp háng gồm các bước cơ bản sau:

Bước 1: Cắt bỏ phần xương và sụn khớp của xương đùi bị tổn thương. Các bác sỹ sẽ cắt bỏ phần chỏm và cổ xương đùi đến gần nền cổ xương đùi.

Bước 2: Phần sụn khớp bị tổn thương của hõm khớp sẽ được làm sạch. Hõm khớp sẽ được chuẩn bị để phù hợp với kích thước của hõm khớp nhân tạo được lựa chọn.

Bước 3: Đặt hõm khớp nhân tạo. Hõm khớp nhân tạo sẽ được đặt vào ổ khớp đã được chuẩn bị và cố định. Hõm khớp nhân tạo sẽ được cố định bằng xi măng sinh học (nếu khớp nhân tạo có xi măng) hoặc bằng các vít cố định( nếu bộ khớp nhân tạo không xi măng).

Bước 4: Sửa soạn ống tuỷ xương đùi. Việc sửa soạn ống tuỷ xương đùi rất quan trọng, đảm bảo việc liên kết giữa phần chuôi của bộ khớp háng nhân tạo và xương đùi có thể được liên kết tốt.

Bước 5: Đặt chuôi khớp nhân tạo. Chuôi khớp sẽ được đặt vào trong ống tuỷ và được cố định. Nếu là bộ khớp nhân tạo có xi măng, chuôi khớp sẽ được cố định bằng xi măng sinh học. Nếu là bộ khớp nhân tạo không có xi măng, chuôi khớp sẽ được cố định nhờ 2 yếu tố: 1) Sự nén chặt( Press fit); 2) Sự phát triển của xương mới bám chặt vào chuôi khớp nhân tạo nhờ cấu trúc của bề mặt chuôi và chuôi được phủ 1 lớp đặc biệt kích thích xương phát triển vào.

Bước 6: Lắp chỏm khớp nhân tạo, kiểm tra chiều dài chi và sự vững của khớp. Chỏm khớp nhân tạo có nhiều sự lựa chọn, giúp cho bác sỹ có thể điều chỉnh để có thể đạt được chiều dài chi lý tưởng và khớp vững.

Bước 7: Hoàn tất. Đặt khớp háng nhân tạo, kiểm tra lần cuối cùng sự vững chắc của khớp.

Sau khi đã hoàn tất các việc thay khớp nhân tạo, các bác sỹ có thể sẽ đặt 1 ống dẫn lưu để theo dõi và dẫn lưu dịch máu sau mổ. Việc phục hồi lại các cấu trúc phần mềm theo từng lớp giải phẫu đóng vai trò quan trọng và góp phần tăng cường sự vững chắc của khớp nhân tạo.