Google Plus Youtube Facebook Twitter
Menu

Phẫu thuật điều trị U não

Khối u não là một sự tăng trưởng bất thường của các tế bào bên trong hộp sọ.

U não nguyên phát là các khối u phát sinh từ não. Chúng có thể phát triển từ các tế bào của bộ não, các mạch máu trong não, dây thần kinh xuất phát từ não hoặc các màng bao phủ não. U não lành tính (không ung thư) nhìn chung là những khối u phát triển chậm. Chúng có thể tạo ra áp lực có khả năng gây tổn hại lên não, nhưng chúng không di căn vào các mô não xung quanh. U não ác tính (ung thư) phát triển nhanh và chúng di căn sang vùng não xung quanh.

U não thứ phát hoặc di căn phát triển từ các tế bào ung thư có nguồn gốc từ khối u nguyên phát nằm ở một cơ quan khác (như phổi, vú hoặc ruột kết).

Cả hai loại u não nguyên phát và thứ phát có thể gây ra khuyết tật nghiêm trọng và gây tử vong nếu sự phát triển không được kiểm soát. Tất cả các bệnh nhân có triệu chứng u não nên được đánh giá bởi một chuyên gia giải phẫu thần kinh để chẩn đoán và điều trị.

Nguyên nhân gây u não

Một vài bệnh di truyền đã được xác định có thể làm tăng nguy cơ phát triển các khối u não. Ví dụ, trong bệnh di truyền được gọi là Hội chứng Von Hippel-Lindau , con cái, anh chị em ruột và người thân có thể phát triển khối u ở tiểu não và các bộ phận khác của cơ thể như u thận ác tính .

Nghiên cứu cho thấy những bất thường di truyền ở một số khối u não. Một số khối u cũng được biết là có tỉ lệ mắc phải cao hơn trong những gia đình nhất định.

Tuy nhiên, trong đa số trường hợp, nguyên nhân gây u não chưa được biết rõ. Hiện tại chưa có bằng chứng rõ ràng nào chứng minh chấn thương, tiếp xúc với hóa chất, nhiễm trùng virus, sử dụng điện thoại di động, các yếu tố môi trường hoặc căng thẳng tâm thần có thể gây ra sự tăng trưởng của các khối u não.

Triệu chứng

Các triệu chứng có thể là tổng quát hay cục bộ.

Các triệu chứng tổng quát là do áp lực gia tăng ảnh hưởng lên não và bao gồm:

  • Nhức đầu tái diễn có thể trở nên tệ hơn vào buổi sáng
  • Buồn nôn và ói mửa
  • Động kinh
  • Buồn ngủ gia tăng

Các triệu chứng cục bộ phụ thuộc vào vị trí của khối u và bao gồm:

  • Sự yếu hay tê/liệt ngày càng tăng ở cánh tay hoặc chân
  • Ngày càng gặp khó khăn khi nói, nghe, tập trung hoặc nhìn, bao gồm chứng song thị
  • Mất trí nhớ hoặc thay đổi trong trí nhớ
  • Thay đổi đáng kể trong tính cách hoặc hành vi

Một số những triệu chứng này cũng có thể được gây ra bởi các điều kiện khác không phải u não. Do đó, bạn nên tìm đến ý kiến của chuyên gia phẫu thuật thần kinh nếu các triệu chứng kéo dài.

Yếu tố nguy cơ

Những ai có nguy cơ phát triển khối u não?

Các khối u não có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng các khối u xuất hiện trong giai đoạn trẻ thơ thường khác với khối u được chẩn đoán ở người lớn.

Chẩn đoán

Đánh giá lâm sàng chi tiết bao gồm cả bệnh sử của các triệu chứng và kiểm tra thể lực, gồm cả kiểm tra toàn diện về thần kinh, là cần thiết. Những phương pháp kiểm tra hình ảnh chuyên biệt như chụp cắt lớp điện toán (CT scan), chụp cộng hưởng từ (MRI) thường sẽ được thực hiện.

Thỉnh thoảng, các xét nghiệm đặc biệt như chụp hình mạch máu não (chụp X-quang của các mạch máu não), quét MRI chức năng và MRI tractography (tạo hình đường thần kinh) có thể được yêu cầu.

Các xét nghiệm này sẽ cho biết kích thước của khối u, vị trí và đồng thời khoảng cách ước đoán đến các cấu trúc quan trọng như trung tâm điều khiển lời nói hay vận động của não. Thông tin này sẽ giúp cho bác sĩ giải phẫu thần kinh chẩn đoán tạm thời loại khối u và giúp cho việc lên kế hoạch phẫu thuật loại bỏ.

Phẫu thuật

Trong hầu hết trường hợp, phẫu thuật bằng cách sử dụng các kỹ thuật vi phẫu là cần thiết để loại bỏ càng nhiều khối u cáng tốt và gây tổn thương tối thiểu đến não. Mô não cực kỳ mỏng manh và có thể bị tổn thương vĩnh viễn từ áp lực quá mức hay sự gián đoạn cung cấp máu. Những rủi ro của phương pháp phẫu thuật bao gồm nhiễm trùng, xuất huyết, động kinh, liệt, hôn mê và tử vong.

Thiết bị tinh vi hiện có giúp việc phẫu thuật an toàn và hiệu quả hơn. Sử dụng hệ thống định vị vi tính cho phép bác sĩ giải phẫu thần kinh định vị chính xác khối u và đồng thời định vị xung quanh khu vực quan trọng của não. Kính hiển vi phẫu thuật tạo điều kiện cho việc bảo quản những dây thần kinh và mạch máu quan trọng, từ đó giảm nguy cơ tổn thương. Máy hút siêu âm cũng có sẵn để tạo điều kiện cho việc cắt bỏ khối u. Khối u não có thể được xử lý qua một lỗ nhỏ được tạo ra trên hộp sọ bằng cách phẫu thuật tiếp xúc (stereotactic surgery) có hướng dẫn - CT hoặc MRI.Nếu các ranh giới của khối u không thể dễ dàng xác định thì bác sĩ giải phẫu thần kinh có thể phải ngừng cắt bỏ khối u để giảm thiểu nguy cơ gây tổn hại đến phần não bình thường.

Trong những trường hợp đặc biệt khi khối u nằm ở các khu vực quan trọng của não, thường là trung tâm nói hay vận động, phẫu thuật thậm chí có thể được thực hiện khi các bệnh nhân được làm giảm đau nhưng còn tỉnh táo. Các khu vực quan trọng có thể được xác định rõ ràng hơn bằng cách kích thích chúng với một dòng điện yếu và khối u được loại bỏ với sự giám sát liên tục khả năng nói và sức mạnh chi của bệnh nhân. Mục tiêu tổng quát là để loại bỏ khối u càng nhiều càng tốt với ít tổn thương nhất là đến các khu vực quan trọng.

Khi khối u não nhỏ và nằm sâu, sự cắt bỏ khối u mở rộng có thể là không được.Trong tình huống như vậy, một khung tiếp xúc (stereotactic) có thể được thiết lập và sinh thiết có hướng dẫn - CT hoặc MRI được thực hiện. Một mảnh nhỏ của khối u được lấy và gửi đi điều tra chẩn đoán.

Xạ phẫu

Đối với một vài khối u nhỏ, phẫu thuật dao Gamma sử dụng tia gamma tập trung rất mạnh có thể được tiến hành trong một vài giờ để kiềm hãm sự tăng trưởng của khối u mà không cần phẫu thuật.

Xạ trị

Đối với các khối u ung thư não mà không thể cắt bỏ hoàn toàn, phẫu thuật có thể được tiếp tục với điều trị bằng tia bức xạ bên ngoài chiếu từ một máy gia tốc tuyến tính trong 2-6 tuần để tiêu diệt các tế bào khối u còn lại.

Hóa trị

Thuốc giúp tiêu diệt hoặc làm chậm sự tăng trưởng của tế bào ung thư có thể được sử dụng bằng cách uống qua miệng hoặc bằng cách tiêm qua tĩnh mạch. Rụng tóc, buồn nôn và dễ bị nhiễm trùng là những tác dụng phụ có thể xảy ra của hóa trị.

Phục hồi chức năng

Phục hồi có thể bị hạn chế bởi mức độ tổn thương gây ra do khối u và khả năng hồi phục của não. Chuyên gia trị liệu luôn sẵn sảng để bắt đầu quá trình vật lý trị liệu, liệu pháp nghề nghiệp và điều trị tư vấn tại các phòng bệnh. Nếu có những khuyết tật kéo dài, bệnh nhân có thể được chuyển đến Khoa Phục hồi chức năng hoặc đến một cơ sở chăm sóc điều dưỡng trong giai đoạn sau của quá trình phục hồi chức năng để tối đa quá trình phục hồi. Để phục hồi tốt nhất, bệnh nhân và gia đình nên duy trì một thái độ tích cực, thiết lập mục tiêu thực tế và làm việc ổn định để đạt được từng mục tiêu.